Đài Thái Nguyên, Đài Truyền Thanh Truyền Hình Thành Phố Thái Nguyên

Trang tin điện tử Đài Thành Phố Thái Nguyên

Giới thiệu về Thành phố Thái Nguyên
Cập nhật ngày: 05/09/2012 12:00

           I- Sự hình thành thành phố Thái Nguyên.

           Dưới thời Bắc thuộc ( bắt đầu từ cuộc chiến tranh xâm lược của Triệu Đà năm 179 trước công nguyên), vùng đất thành phố Thái Nguyên ngày nay có lúc nằm trong huyện Long Biên, quận Giao Chỉ; có lúc nằm trong châu Long và châu Vũ Nga thuộc đất An Nam đô hộ phủ.

Từ thế kỉ thứ X, sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, ông cha ta đã khôi phục được nền độc lập, tự chủ lâu dài cho đất nước, chấm dứt ách đô hộ hơn một nghìn năm của các triều đại phong kiến phương Bắc. Các vương triều phong kiến Đại Việt đã tiến hành nhiều cuộc cải cách hành chính, phân chia lại vùng lãnh thổ. Vùng đất thành phố Thái Nguyên ngày nay, dưới thời nhà Lý (1010-1225) thuộc châu Thái Nguyên; dưới các thời nhà Trần (1225-1400), nhà Hồ ( 1400-1407) thuộc trấn Thái Nguyên; dưới thời thuộc Minh (1407-1427) thuộc phủ Thái Nguyên; Dưới triều nhà Lê ( 1428-1788) có lúc thuộc thừa tuyên Thái Nguyên, có lúc thuộc thừa tuyên Ninh Sóc, có lúc lại thuộc xứ Thái Nguyên, hoặc trấn Thái Nguyên. Dưới triều nhà Nguyễn ( 1802-1945), vùng đất thành phố Thái Nguyên ngày nay thuộc trấn Thái Nguyên ( từ năm 1802 đến năm 1831) và thuộc tỉnh Thái Nguyên ( từ năm 1831 trở đi).

Năm 1831, nhà Nguyễn điều chỉnh lại địa giới hành chính, cắt huyện Thiên Phúc ( vùng đất huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ngày nay) về tỉnh Bắc Ninh, thủ phủ của trấn Thái Nguyên được chuyển từ xã Bình Kỳ, huyện Thiên Phúc về thành Đồng Mỗ, thuộc huyện Đồng Hỷ ( nay là một phần vùng đất thuộc các phường Trưng Vương và Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên). ''Tỉnh thành đất bằng phẳng, rộng rãi, đường thủy, đường bộ giao thông đều thuận tiện. Chu vi tỉnh thành dài 345 trượng ( khoảng 1145,4 mét), cao 9 thước ( khoảng 2,88 mét), mở 4 cửa, hào rộng 3 trượng ( khoảng 9,96 mét), sâu 5 thước ( khoảng 1,66 mét). Tường thành đắp bằng đất, đến năm Tự Đức thứ 2 ( 1849) được xây bằng gạch''.

Dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1884 đến đầu Thế kỷ XX, cùng với việc tăng cường bộ máy đàn áp, mở rộng các cơ sở dịch vụ, thành phố Thái Nguyên được thực dân Pháp mở rộng thành thị xã Thái Nguyên và phát triển dân về phía Tây nam, bao gồm phần đất có diện tích tương ứng với phường Trưng Vương, một phần các phường Túc Duyên, Hoàng Văn Thụ và Phan Đình Phùng ngày nay.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, thị xã Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên.

Năm 1956, khu Tự trị Việt Bắc được thành lập, thị xã Thái Nguyên vừa là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên, vừa là Thủ phủ của Khu Tự trị Việt Bắc.

Theo quyết định số 114/CP ngày 19-10-1962 của Thủ tướng Chính phủ, thị xã Thái Nguyên được nâng cấp thành thành phố Thái Nguyên, thuộc tỉnh Thái Nguyên, với tổng diện tích tự nhiên hơn 100 ki lô mét vuông và với dân số khoảng 60.000 người.

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và tăng cường khả năng quốc phòng, theo quyết định ngày 21-4-1965 của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ ngày 1-7-1965, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc kạn sáp nhập thành tỉnh Bắc Thái, thành phố Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Bắc Thái.

Để phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ, ngày 2-4-1985, Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Hội đồng Chính phủ) ra quyết định số 102/HĐBT chuyển huyện Đồng Hỷ sang phía đông- bắc sông Cầu; thành phố Thái Nguyên tiếp nhận thêm 7 xã phía tây, tây bắc của huyện Đồng Hỷ, đồng thời cắt xã Đồng Bẩm và 2 phường Chiến Thắng, Núi Voi về huyện Đồng Hỷ. Ngày 8-4-1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 109/HĐBT, thành lập phường Tân Thịnh, và giải thể 3 xã Đồng Quang, Cam Giá, Gia Sàng để thành lập 3 phường Đồng Quang, Cam Giá, Gia Sàng.

Theo Quyết định số 25/HĐBT ngày 13-2-1987 của Hội đồng Bộ trưởng, các xã Túc Duyên, Quang Vinh thành phường Quang Vinh; phường Tân Thịnh được chia thành 2 phường Tân Thịnh và Tân Lập.

Thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 11-7-1994 của Chính phủ, phường Đồng Quang tách thành 2 phường Đồng Quang và Quang Trung.

Theo Quyết định ngày 6-11-1996 của Quốc hội khóa IX, từ ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Thái được tách thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, thành phố Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên.

Theo Quyết định số 14/2004/NĐ-CP, ngày 1-9-2004 của Chính phủ, xã Thịnh Đán được tách thành phường Thịnh Đán và xã Quyết Thắng.

Ngày 31-7-2008 Chính phủ đã có Nghị định số 84/2008-CP về điều chỉnh địa giới huyện Đồng Hỷ để mở rộng thành phố Thái Nguyên, bàn giao hai xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm về thành phố Thái Nguyên.

Ngày 13-1-2011, Chính phủ đã có nghị quyết số 05/2011/NQ-CP về giải thể, điều chỉnh địa giới để thành lập các phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong đó chuyển xã Tích Lương thành phường Tích Lương thuộc thành phố Thái Nguyên.

Như vậy sau 49 năm thành lập thành phố Thái Nguyên , đến nay sau nhiều lần điều chỉnh, chuyển đổi, toàn thành phố Thái Nguyên đã có 28 xã, phường trong đó có 9 xã và 19 phường; Diện tích tự nhiên là 18.970,48 ha; Dân số 330.707 người; trong đó dân số thường trú là 279.710 người ( thời điểm 1-10-2010)

Đối với thành phố sau 49 năm đã dược Thủ tướng Chính phủ 4 lần quyết định phê duyệt điều chỉnh và nâng cấp thành phố, đó là các lần quyết định như sau:

Ngày 30-10-1996, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 802/TTG phê duyệt quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên, công nhận thành phố Thái Nguyên là trung tâm vùng Việt Bắc.

Ngày14-10-2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 135/2002/QĐ-TTG công nhận thành phố Thái Nguyên là đô thị loại II.

Ngày 2-11-2005, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 278/2005 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên đến năm 2020.

Ngày 1-9-2010, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1615/QĐ-TTG công nhận thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên.

II- Vị thế trung tâm vùng của thành phố Thái Nguyên.

Thành phố Thái Nguyên là tỉnh lỵ của tỉnh Thái Nguyên, là đầu mối giao thông quan trọng nối các tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc bộ với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội. Đó là quốc lộ 3 nối Hà Nội- Thái Nguyên- Bắc Kạn- Cao Bằng, cửa khẩu Tà Lùng Cao Bằng; Quốc lộ 1B nối Thái Nguyên- Lạng Sơn, cửa khẩu Hữu nghị quan; Quốc lộ 37 nối với các tỉnh Thái Nguyên- Tuyên Quang với Bắc Giang- Bắc Ninh, hệ thống đường xe lửa Thái Nguyên- Bắc Giang- Lạng Sơn- Hà Nội; Đường cao tốc quốc lộ 3 mới nối với thủ đô đã được khởi công xây dựng năm 2010; Thành phố Thái Nguyên cách sân bay quốc tế Nội bài 52 Km.

Thành phố Thái Nguyên là trung tâm lớn đứng thứ 3 trong toàn quốc về giáo dục đào tạo chuyên nghiệp chỉ sau thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2010, trên địa bàn thành phố có 7 trường đại học và 25 trường cao đẳng và trung tâm chuyên nghiệp công lập với lưu lượng học sinh sinh viên hàng năm trên 80.000 người học.

Thành phố Thái Nguyên là thành phố công nghiệp luyện kim đầu tiên và là cánh chim đầu đàn của ngành luyện kim Việt nam. Nơi đây năm 1959 đã được đảng và nhà nước đầu tư xây dựng khu công nghiệp gang thép và sau đó là các nhà máy luyện kim màu. Hiện nay chỉ tính riêng khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên đã có 17 nhà máy, xí nghiệp thành viên với gần 7 vạn công nhân, mỗi năm cung cấp cho cho tổ quốc hơn nửa triệu tấn gang thép. Hiện nay tại đây đang đầu tư và mở rộng giai đoạn 2 để đáp ứng thép gang cho sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.

Thành phố Thái Nguyên là một trung tâm y tế lớn của cả vùng. Đến nay đã có 9 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa của trung ương và của địa phương với trên 2000 giường bệnh. Với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị ngày càng hiện đại, đã góp phần quan trọng nhằm giảm tải cho các bệnh viện lớn tại Hà Nội.

Thành phố Thái Nguyên trung tâm nối với các tuyến, tua, điểm di lịch của các nước và các tỉnh phía Bắc. Nơi có vùng du lịch nổi tiếng Hồ núi cốc và vùng chè đặc sản Tân Cương. Hiện trên địa bàn có hơn 100 điểm di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh và quốc gia. Giữa trung tâm thành phố là Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam, nơi lưu giữ tất cả nền văn hóa của 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam. Thăm bảo tàng du khách như được tận mắt đi, đến tất cả các vùng miền của đất nước.

 III- Đất thiêng hun đúc anh hùng qua các thời kỳ.

A- Thời kỳ chưa có đảng lãnh đạo:

1.Phò mã Dương Tự Minh: Dân tộc tày, quê Quan Triều thuộc Phủ phú Lương.Ông là người thông minh, hiếu lễ. Do có nhiều đóng góp to lớn trong việc ổn định biên giới quốc gia nên năm 1127 được triều đình nhà Lý gả cho Ông công chúa Diên Bình. Năm 1142 Ông được cử đến Châu Quảng Nguyên để chiêu tập dân lưu tán. Năm 1143 Ông được triều đình cho cai việc công các khe động dọc theo biên giới đường bộ. Năm 1144 Ông được triều đình gả công chúa Thiều Dung và phong làm Phò mã lang ( Phò mã Đô úy). Năm 1150 Ông cùng các đại thần trong triều lập mưu bắt tên gian thần Thái úy Đỗ Anh Vũ. Nhưng khi Đỗ Anh Vũ được thả, Ông bị đi đày và mất tại núi Đuổm thuộc huyện Phú Lương. Dương Tự Minh đã được nhiều triều đại phong kiến Việt Nam ban sắc phong "Thượng đẳng thần".

2. Phạm Nhĩ: Sinh năm 1450 tại Đồng Bẩm. Năm Hồng Đức thứ 24 ( tức năm 1443), Phạm Nhĩ thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ ( có tên trong bia tiến sĩ tại Văn miếu Quốc tử giám). Ông đã làm đến chức Phủ Doãn Phủ Phụng Thiên, chức quan đứng đầu kinh thành Thăng Long về mặt hành chính.

3. Tiến sĩ Đàm Sâm: Quê thuộc làng Sa Kệ ( phường Thịnh Đán). Năm Hồng thuận thứ 3 ( năm 1511) Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ giáp thân ( có tên trong bia tiến sĩ tại Văn miếu Quốc tử giám- Hà Nội). Ông đã được làm đến chức thượng thư.

4. Trịnh Bá: Là người phường Cam Giá. Năm Hồng thuận thứ 6 ( năm 1514) Ông thi đỗ tiến sĩ và được triều đình phong đến chức Binh bộ Hữu Thị Lang ( tương đương chức Thứ trưởng Bộ quốc phòng ngày nay), xếp vị trí thứ 3 trong bộ binh ( Bộ quốc phòng).

5. Đàm Chí: Ông sinh tại Sa Kệ ( Sa cát) nay thuộc xã Phúc Trìu. Năm Đại chính thứ 6 ( năm 1535) đời Mạc Đăng Doanh, Ông thi đỗ tiến sĩ ( hiện có tên tại bia Văn miếu Quốc tử giám- Hà Nội). Đàm Chí đã được triều đình phong tới chức Thừa chính sử với chức Vân Trai bá ( tức Bá tước). Nay đền thờ Ông đặt tại xóm Chợ xã Phúc Trìu.

6. Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến không phải là người thuộc thành phố Thái Nguyên nhưng hai Ông đã lãnh đạo nghĩa quân và binh lính làm nên cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên vào đêm 30 rạng sáng ngày 31/8/1917. Đây là cuộc khởi nghĩa lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam một cuộc khởi nghĩa vũ trang không chỉ bao gồm binh lính mà còn thu hút được sự tham gia đông đảo của tù chính trị trong nhà tù Thái Nguyên của công nhân mỏ và các tầng lớp nhân dân. Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên và tên tuổi Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến còn sống mãi trong lòng nhân dân các dân tộc thành phố Thái Nguyên nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung.

B. Thời kỳ có đảng và Bác Hồ lãnh đạo.

* Thời kỳ chống thực dân Pháp:

Tập thể:

1. Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Tân Cương được Chủ tịch nước ký quyết định số 202/KT-CTN ngày 11-6-1999 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống pháp"

2. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Thịnh Đức được Chủ tịch nước ký quyết định số 635/2005/QĐ-CTN ngày 24-6-2005 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống pháp".

3. Nhân dân và lực lượng vũ trang phường Thịnh Đán được Chủ tịch nước ký quyết định số 635/2005/QĐ-CTN ngày 24-6-2005 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống pháp".

4. Cán bộ, công nhân và lực lượng tự vệ Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ được Chủ tịch nước ký quyết định số 287/QĐ-CTN ngày 10-4-2001 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống pháp".

Cá nhân.

5. Trung tướng Đàm Ngụy: Sinh năm 1928 tại Cao Bằng trú quán tại phường Hoàng Văn Thụ, được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" ngày 7-5-1956.

* Thời kỳ chống mỹ cứu nước:

Tập thể:

1. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Thái Nguyên  được Chủ tịch nước ký quyết định số 424/KT-CTN ngày 22-8-1998 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

2. Nhân dân và lực lượng vũ trang phường Gia Sàng: Được Chủ tịch nước ra Quyết định số 424/KT-CTN ngày 22-8-1998 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

3. Nhân dân và lực lượng vũ trang phường Hoàng Văn Thụ: Được Chủ tịch nước ra Quyết định số 160/KT-CTN ngày 28-4-2000 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

4. Cán bộ, công nhân và lực lượng tự vệ Công ty gang thép Thái Nguyên: Được Chủ tịch nước ký Quyết định số 203/KT-CTN ngày 11-6-1999 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

5. Cán bộ, công nhân và lực lượng tự vệ Nhà máy điện Thái Nguyên: Được Chủ tịch nước ra Quyết định số 567/KT-CTN ngày 8-11-2000 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

6. Cán bộ, công nhân và lực lượng tự vệ Ty Bưu điện Thái Nguyên: Được Chủ tịch nước ký Quyết định số 567/KT-CTN ngày 8-11-2000 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

7. Công an thành phố Thái Nguyên: Được Chủ tịch nước ký Quyết định vào ngày 22-7-1998 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

8. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân phường Quan Triều: Được Chủ tịch nước ký Quyết định số 634/2005/QĐ-CTN ngày 24-6-2005 phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

9. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân phường Phú Xá: Được Chủ tịch nước ký Quyết định số 634/2005/QĐ-CTN ngày 24-6-2005 phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

10. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân phường Cam Giá: Được Chủ tịch nước ký Quyết định số 634/2005/QĐ-CTN ngày 24-6-2005 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

11. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Quyết Thắng: Được Chủ tịch nước ký Quyết định số 634/2005/QĐ-CTN ngày 24-6-2005 tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

12. Cán bộ, công nhân và lực lượng tự vệ Xí nghiệp than Khánh Hòa: Được Chủ tịch nước ký Quyết định số 634/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Cá nhân.

1. Hoàng Văn Nghiêm: Sinh năm 1939, tại huyện Hòa An- Cao Bằng, trú quán hiện nay tại phường Trưng Vương thành phố Thái Nguyên, được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước ngày 1-1-1967.

2. Phạm Viết Đức: Sinh năm 1936, tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa, trú quán hiện nay tại phường Tân Thịnh, thành phố Thái nguyên, được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước ngày 1-10- 1971.

3. Ngô Văn Sơn: Xã Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, sinh năm 1947, được Chủ tịch nước ký lệnh số 47/LCT ngày 3-6-1976 phong tặng dang hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

* Danh sách Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Phường Túc Duyên:

1. Mẹ Nguyễn Thị Bình: Sinh năm 1900 tại phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên, có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, được phong tặng ngày 24-4-1996.

2. Mẹ Nguyễn Thị Nuôi: Sinh năm 1903 tại Hải Dương, trú quán  phường Túc Duyên, có một con duy nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1996.

3. Mẹ Đồng Thị Đỡ: Sinh năm 1911 tại tỉnh Nam Định, trú quán  phường Túc Duyên, có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1996.

Phường Phan Đình Phùng:

1. Mẹ Phạm Thị Gái: sinh năm 1910 tại tỉnh Ninh Bình, trú quán  phường Phan Đình Phùng, có một con độc nhất hy sinh trong sự nghiệp chống Pháp tại Lào, được phong tặng ngày 23-7-1997.

2. Mẹ Trần Thị Tý: Sinh năm 1914 tại Bình Lục- Hà Nam, trú quán  Phường Phan Đình Phùng, có ba con hy sinh trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

Phường Thịnh Đán:

1.Mẹ Đàm Thị Thìn: Sinh năm 1910 tại xã Quyết Thắng, trú quán phường Thịnh Đán, có 3 con hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

 Phường Gia Sàng:

1. Mẹ Nguyễn Thị Tập: Sinh năm 1929 tại Bắc Ninh, trú quán phường Gia Sàng, có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1996.

2. Mẹ Nguyễn Thị Vân: Sinh năm 1911 tại Đông Anh Hà Nội. Trú quán tại Phường GIa Sàng, có 2 con duy nhất hy sinh trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24/04/1995

Phường Cam Giá:

1. Mẹ Nguyễn Thị Hứa: Sinh năm 1900 tại Thái Bình, trú quán phường Cam Giá, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

2. Mẹ Nguyễn Thị Thư: Sinh năm 1905 tại tỉnh Phú Thọ, trú quán phường Cam Giá, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 23-8-2006.

Phường Tích Lương:

1. Mẹ Lê Thị Bốn: Sinh năm 1902 tại Đông Anh- Hà Nội, trú quán phường Tích Lương, có con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

2. Mẹ Lê Thị Chắt: Sinh năm .... tại Đông Anh- Hà Nội, thường trú phường Tích Lương, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

Xã Tân Cương.

1. Mẹ Ngô Thị Chén: Sinh năm 1908 tại Xuân Thủy- tỉnh Nam Định, trú quán xã Tân Cương, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

2. Mẹ Nguyễn Thị Thược: Sinh năm 1908 tại phường Túc Duyên, trú quán  xã Tân Cương, có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 23-8-2006.

        Xã Cao Ngạn.

1. Mẹ Lê Thị Bé: Sinh ngày 30-3-1910 trú quán tại xã Cao Ngạn- thành phố Thái Nguyên, có hai con trai hy sinh trong kháng chiến chống .....

2. Mẹ Bùi Thị Hẹ: Sinh năm 1917 trú quán xã Cao Ngạn, có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến chống....

3. Mẹ Nguyễn Thị Vượng: Sinh năm 1909 trú quán tại xã Cao Ngạn, quê Báo Đáp, Tứ Kỳ, Hải Dương , có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến chống....

4. Mẹ Nguyễn Thị Mỹ: Sinh năm 1908 trú quán tại xã Cao Ngạn- thành phố Thái Nguyên, quê quán Kiến Xương- Thái Bình, có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến....

Phường Hương Sơn.

1. Mẹ Nguyễn Thị Cải: Sinh năm 1911 tại Thái Bình, trú quán  phường Hương Sơn, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

Xã Lương Sơn.

1. Mẹ Hoàng Thị Đằng: Sinh năm 1917 tại xã Lương Sơn, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được phong tặng ngày 24-4-1995.

Phường Tân Thịnh.

1. Mẹ Nguyễn Thị Ngoại: Sinh năm 1929 tại phường Tân Thịnh, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

Xã Phúc Trìu.

1. Mẹ Nguyễn Thị Sáu: Sinh năm 1911 tại Ân Thi- Hưng Yên, trú quán  xã Phúc Trìu, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

Phường Trưng Vương.

1. Mẹ Nguyễn Thị Thục: Sinh năm 1922 tại huyện Đại Từ, trú quán  phường Trưng Vương, có một con độc nhất hy sinh tại biên giới phía bắc năm 1979, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1995.

Phường Hoàng Văn Thụ.

1. Mẹ Phạm Thị Hải: Sinh năm 1915 tại tỉnh Hà Tây, trú quán hiện nay phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24-4-1996.

Xã Phúc Hà.

1. Mẹ Trần Thị Bẩy: Sinh năm 1909, quê Nam Định, trú quán tại xã Phúc Hà, có một con độc nhất hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được phong tặng ngày 24-4-1995.

Phường Đồng Quang.

           1. Mẹ Hoàng Thị Dần: Sinh năm 1924 tại Ninh Bình, trú quán phường Đồng Quang, có một con độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước phong tặng ngày 17-2-2002.

            2. Mẹ Nguyễn Thị Lịch, 101 tuổi,  quê Bắc Giang, có 3 con liệt sỹ. Hiện thường trú tại Tổ 6, phường Đồng Quang thành phố Thái Nguyên.

          Xã Đồng Bẩm:

          1. Mẹ Nguyễn Thị Hồng: Sinh năm 1910 Tại Đồng Bẩm. Có 1 con duy nhất hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Được Chủ tịch nước truy tặng ngày 24/01/1996

          2. Mẹ Đỗ Thị Gái: sinh năm 1906 tại Đồng Bẩm. Có 1 con duy nhất hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Được Chủ tịch nước phong tặng ngày 24/04/1995

          3. Mẹ Nguyễn Thị Phú: sinh năm 1924 .Có 1 con duy nhất hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Được Chủ tịch nước truy tặng ngày 24/04/1996 

                                                                                                                                       (Còn Tiếp)